Lịch sử phát triển làng Hóa Trung
Vùng đất Đại Lộc xưa kia thuộc đất Lâm Ấp - Chiêm thành
Năm 1307,vua Trần Anh Tông tiếp thu 2 châu: Châu Ô và Châu Rí, di dân khẩn hoang, lập ấp và đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu (Nam Hải Vân ).
Năm 1402, Hồ Quý Ly chia Hoá Châu- gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lủy - lập thành 4 Châu là Thăng Châu (Thăng Bình ), Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu (Quảng Ngãi), di dân canh tác và đặt quan An phủ sứ cai trị.
Năm 1470, vua Lê Thánh Tông, sau trận đại thắng, bắt được vua Chiêm Thành là Trà Toàn, chia Chiêm Thành ra làm 3 nước nhỏ. Lấy lại Hóa Châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lủy lập thành Ðạo Quảng Nam, gồm có 3 Phủ và 8 Huyện (tiền thân của Nam, Ngãi, Bình và Phú ), địa danh QUẢNG NAM bắt đầu xuất hiện từ đây.
Đời vua Thánh Tông, năm 1466, chia cả nước làm 12 đạo Thừa tuyên, trong đó có Thuận Hoá. Thuận Hoá Thừa tuyên gồm 2 phủ: Triệu Phong và Tân Bình. Phủ Triệu Phong có 6 huyện, 2 châu; trong đó có huyện Điện Bàn quản 12 tổng, 96 xã.
Theo Ô Châu cận lục (1553), thì vào thời bấy giờ huyện Điện Bàn (bao gồm đất Đại Lộc ngày nay, vì thuở đó huyện Đại Lộc chưa ra đời) gồm có 66 xã; trong đó có một số tên xã về sau này thuộc Đại Lộc như: Phiếm Ái (Đại Nghĩa), Gia Cốc (Đại Minh), Quảng Huế (Đại An). . .
Đạo Thừa tuyên Quảng Nam sau đó (1490) đổi lại gọi là Xứ Quảng Nam, năm 1520 gọi là Trấn Quảng Nam.
Từ năm 1471 đến 200 năm tiếp theo (1471-1671), những cuộc di dân ồ ạt với những lý do về kinh tế hoặc chiến tranh, thiên tai, cho nên việc di dân trên diện rộng từ Thanh Hóa, Nghệ An… vào là điều đương nhiên.
Đầu năm Chánh Trị (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, rất đông quan, quân nghĩa dõng hai trấn Thanh Hóa, Nghệ An cũng mang cả gia đình vào Nam.
Năm Canh Tý (1600), nhân có khởi loạn ở Đàng Trong, ông tâu xin vua Lê và Trịnh Tùng cho ông đem quân vào phủ dụ. Nguyễn Hoàng huy động toàn bộ binh tướng, thuộc hạ dưới quyền, kể cả những người dân ở hai huyện Hải Hậu và Giao Thủy thuộc Nam Định cũng đồng lòng đem vợ con lớn bé cùng đi theo.
Năm 1604, Nguyễn Hoàng lập dinh Quảng Nam, lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong nâng lên làm phủ Điện Bàn (quản 5 huyện là Tân Phước, An Nông, Hoà Vinh, Diên Khánh, Phúc Châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Như vậy từ năm 1604, huyện Điện Bàn không còn nằm trong Thuận Hoá nữa.
Từ 1602 - 1631, giai đoạn di dân mạnh nhất và là cuối cùng với việc chúa Nguyễn xây lũy Trường Dục và luỹ Nhật Lệ. Từ năm 1631 - 1671, hiện tượng di dân chấm dứt. Năm 1671 đất nước chia làm Nam - Bắc lấy sông Gianh làm ranh giới, bắt đầu 115 chia cắt (1671 – 1786)
Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Lan (1648), có chủ trương vận động khai khẩn lập ấp theo nhóm 50 người. Nhờ chính sách này, vùng Điện Bàn đến Phú Yên mới có quan cảnh trù mật, làng mạc nối liền nhau (Việt sử xứ Đàng Trong, tr 387).
Thời Nguyễn Phước Khoát, thuế khóa phức tạp, nặng nề, lạm thu. Thuế thổ sản có hàng ngàn thứ, tính cả sản vật nhỏ nhặt. Năm 1741, truy thu thuế của cả những người bỏ trốn, lại có lệnh truy thu thuế còn thiếu của 10 năm trước.
Thất bại trước những đụng độ với Xiêm La cộng với sưu thuế nặng nề cùng tham nhũng tại địa phương khiến chính quyền họ Nguyễn suy yếu thêm. Đó là thời cơ để Tây Sơn khởi nghĩa chống lại.
Thời Tây Sơn, (1771-1800), vùng đất Nam Ngãi thuộc quản lý của Tây Sơn trong suốt 30 năm. Điều đáng chú ý của giai đoạn này là, nhà Tây Sơn lập nhiều chiến công hiển bách, nên phải huy động toàn bộ dân đinh trong vùng từ 15 tuổi đến 60 tuổi vào lính, nhằm cung cấp nhân lực cho các cuộc chiến với chúa Trịnh -Nguyễn,chống quân Thanh, quân Xiêm và cả cuộc chiến nội bộ.
Dưới thời Gia Long, năm 1803 lấy đất hai phủ Thăng Hoa và phủ Điện Bàn đặt làm Quảng Nam dinh, năm 1827 đổi là trấn Quảng Nam, đến năm 1832 đổi thành tỉnh Quảng Nam. (Việt sử xứ Đàng Trong, trang 125.)
Căn cứ vào các sổ địa bộ của dinh Quảng Nam lập vào năm 1814 – 1815, dinh chia thành 2 phủ: Điện Bàn và Thăng Hoa. Phủ Điện Bàn gồm huyện Hòa Vang và châu Diên Khánh. Châu Diên Khánh lúc ấy bao gồm cả đất Đại Lộc ngày nay.
Theo Đồng Khánh địa dư chí, (tỉnh Quảng Nam - trang 1452) có ghi:
Tổng Mỹ Hoà Trung (Diên Phước) 28 thôn, châu. (Mỹ Hoà, Giáo Ái đông giáp, Thuý La,Thi Lân,Thượng Phước, Quảng Hoá Phú, Đa Hoà, Thi Lân, Bảo Luân, Quảng Hoá An, Quảng Hoá Trung, Giáo Ái Trung, Quảng Hoá Tây, Quảng Hoá Đại An, Quảng Hoá Đông, Quảng Hoá Đại, Bào Nghi Tây, Ái Mỹ Đông, Bảo Nghi Đông, Bình An, Thạch Bộ, Hoà Mỹ, Ái Mỹ Tây, Giáo Ái Tây, Giáo An Giao Thuỷ, Phiếm Ái, Bảo Sơn)
Đến đời Thành Thái(năm 1900 ) chính thức cắt 2 tổng Đại An, Mỹ Hòa của huyện Diên Phước và 3 tổng Đức Hòa, An Phước, Phú Khê của huyện Hòa Vang hình thành huyện Đại Lộc (Chân núi lớn). Huyện Đại Lộc lúc này có 5 tổng, 109 xã, thôn, phường, châu. (bao gồm cả Hiên và Giằng) Như vậy, đến nay huyện Đại Lộc, về mặt hành chánh, đã ra đời đúng 115 năm.
Đến năm 1919, huyện Đại Lộc lúc bấy giờ có 6 tổng, 103 xã, phường, châu, thôn(bao gồm cả Hiên và Giằng). Sáu tổng là: tổng Đại An (34 xã, châu, thôn), tổng Đức Thượng (13 xã, thôn), tổng Hòa Đạo (9 xã), tổng Đức Hạ (15 xã, thôn), tổng Phú Khê (7 xã, phường, thôn) và tổng Mỹ Hòa(gồm 25 xã, châu, thôn)
Tháng 2/1946, cắt một số xã thuộc Tổng An Lễ, Phú Mỹ(Duy Xuyên) về huyện Đại Lộc ( nay là Đại Minh, Đại Phong, Đại Chánh).
Tháng 3/ 1948, thành lập huyện Giằng, chia Đại Lộc lại thành 11 xã - gọi là ẩp Trung Lập, xã Lộc Khương quận Đại Lộc
Tháng 7/1962,gọi là thôn Hoá Trung, xã Lộc An quận Đại Lộc.
Tháng 6/1993, đổi thành thôn Tư, xã Đại An, huyện Đại Lộc
Năm 1990 thôn Tư, xã Đại Hoà (sáp nhập)
Tháng 3/2007 thôn Tư, xã Đại An huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Hiện nay, Đại Lộc có 18 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 1 thị trấn và 17 xã: Đại Đồng, Đại Hiệp, Đại Nghĩa, Đại An, Đại Quang, Đại Lãnh, Đại Hưng, Đại Minh, Đại Cường, Đại Thạnh, Đại Thắng, Đại Phong, Đại Hồng, Đại Hòa, Đại Chánh, Đại Tân, Đại Sơn, Thị trấn Ái Nghĩa.
Đại An bao gồm 10 thôn: Quảng Huế - Đông Tây - Bàu Tròn - Hóa Phú - Phú Lộc - Ái Mỹ - Nghĩa Nam - Thôn Tư - Quảng Yên - Phước Yên
Riêng Thôn Tư gồm 3 thôn cũ là Hoá Trung, Hoá Đại và Quảng Hóa, nên không đổi về tên thôn cũ.
Năm 2025, nhà nước quyết định tổ chức chính quyền 2 cấp. Tỉnh Quảng Nam bị sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng. Huyện Đại Lộc được tổ chức lại do bỏ cấp huyện, trở thành xã Đại Lộc – gồm các xã cũ Đại An, Đại Hòa, Đại Nghĩa, Đại Hiệp và trị trấn Ái Nghĩa. Quê hương Hóa Trung nay thuộc địa danh Thôn Phú Hòa, xã Đại Lộc – thành phố Đà Nẵng
CÁC CON SÔNG Ở ĐẠI LỘC
Sông Thu Bồn phát nguyên từ núi Ngọc Lĩnh (Nam Quảng Nam – Bắc Kon Tum), phần thượng lưu được gọi là Dak Di. Sông chảy ngược ra phía Bắc qua Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức. Khi qua đây sông nhận thêm nhiều lưu lượng từ các sông Trâm, sông Tiên, sông Tranh, sông Ngang đổ vào. Vào địa phận Quế Sơn, Duy Xuyên mới bắt đầu được gọi là sông Thu Bồn. Ở Quế Sơn, sông đổi theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Khi đến ranh giới giữa Duy Xuyên và Đại Lộc sông Thu Bồn hợp lưu cùng sông Vu Gia tại Giao Thủy, rồi chia làm hai nhánh bao bọc Gò Nổi, chảy qua chợ Củi (Sài Giang), Câu Lâu, xuôi về Hội An và đổ ra Cửa Đại.
Sông Vu Gia (Ô Gia) ở phía Bắc tỉnh Quảng Nam. Sông bắt nguồn từ vùng núi tỉnh Quảng Nam và Bắc Kon Tum. Phần thượng nguồn ở Phước Sơn được gọi là Dak Mi, sông chảy theo hướng Nam- Bắc. Khi qua địa bàn Nam Giang, sông được gọi là sông Cái. Tại đây, nhận một chi lưu phía Tây là sông Giằng. khi chảy sang huyện Đại Lộc, sông được gọi là Vu Gia và có dòng chảy theo hướng Đông -Tây. Sông Vu Gia chảy đến Đại An thì tách ra làm hai dòng, một là sông Yên chảy lên phía Bắc hội lưu với sông Cầu Đỏ, một đoạn đi về phía Nam hội lưu với sông Thu Bồn gọi là sông Quảng Huế (cũ). Sông Quảng Huế (mới) là đoạn cửa mới mở ở Đại Cường, đã chỉnh trị.
Làng Hoá Trung nằm tiếp giáp với sông Quảng Huế (cũ). Mùa mưa lụt, có năm liền tiếp nhiều trận lớn nhỏ làm thất bát lúa mùa chính vụ (tháng 10). Những trận lụt lớn như năm Tỵ (1917) và Năm Thìn (1964) nước lụt mênh mông cuốn phăng tất cả những gì cản ngăn dòng chảy: nhà cửa, cây cối, vật nuôi, hoa màu và cả sinh mạng. Tuy nhiên, những trận lụt vừa và nhỏ cũng giúp ích một số mặt đáng kể: con lụt đầu mùa là dịp bà con ta đua nhau đi bắt dế, bắt cá rầm bằng các loại công cụ: lờ, rút, trũ. . , cũng như vớt được không ít củi gỗ. Mùa mưa lụt, đồng áng bị đình trệ, đường sá trơn trượt, bùn ngập ống chân, đi lại khó khăn; nhưng cũng diệt trừ bớt côn trùng địch hại, mang lại phù sa bồi đắp các bãi đồng.
Làng Hoá Trung nằm trong khu vực trung du sơn cước, gần bãi bồi ven sông, nên phát triển với nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng các loại hoa màu: đậu, bắp, khoai, ớt, thuốc lá, dưa hấu. Ngoài ra, còn có nghề đan tre khi nông nhàn.
Hiện nay(2015), hệ thống thủy điện dày đặc ở thượng nguồn(A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Giằng, Đak Mi 1; Đak Mi 4, Sông Côn 2 ) thêm nạn khai thác đá sỏi và vàng, khoáng sản bừa bãi đã làm đảo lộn cuộc sống vùng hạ lưu bằng những trận lụt khủng khiếp do các hệ thống thủy điện xả lũ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái môi trường và sinh hoạt của người dân. Các dòng sông phần lớn bị ô nhiễm trầm trọng và cạn kiệt.
Về mặt giáo dục, mãi đến khi huyện Đại Lộc được thành lập (1900) mới có trường dạy chữ Nho được mở, gọi là huyện học. Bà con tộc Nguyễn Văn cũng như phần lớn nhân dân Đại Lộc lúc bấy giờ, không có ai đỗ đạt. Trường tiểu học Mỹ Hòa được người Pháp thành lập năm 1915, cũng chỉ dạy tới Lớp Ba, gọi là Sơ học Yếu lược. Đến trước 1975, toàn huyện chỉ có 1 trường Trung học, tỉ lệ mù chữ còn gần 30%. Sau 1975, với các phong trào “bình dân học vụ”, ” xoá mù chữ”, phổ cập trung học, khuyến học. . việc giáo dục ngày càng phát triển.