Logo

TRANG GIA PHẢ TỘC NGUYỄN VĂN - HÓA TRUNG

Gia Phả Tộc Nguyễn Văn

LỜI MỞ ĐẦU

Chim có tổ người có tông..

“Chim có tổ người có tông”, “Cây có cội, nước có nguồn”, những câu ca dao nói lên đạo lý của con người Việt Nam chúng ta đã lưu truyền bao đời nay dẫu cho xã hội có nhiều biến động, thay đổi. Vì vậy việc truy tìm nguồn gốc tổ tiên, chăm lo mồ mả ông bà, là những điều gần như nằm trong tiềm thức của mỗi một con người Việt Nam.

Gia Phả với mục đích ghi lại tiểu sử những người trong dòng họ qua các thế hệ, nhờ vậy mà con cháu về sau, có thể biết được nguồn gốc, công đức, sự việc, tên húy, ngày kỵ giỗ của ông bà, tổ tiên và đồng thời cũng biết được bà con thân thuộc trong họ tộc. Qua đó khơi gợi truyền thống dòng họ, thấy được ý chí và ước vọng của tiền nhân, tăng cường gắn kết trong họ tộc, cũng như rút ra các bài học quí giá.Gia Phả với mục đích ghi lại tiểu sử những người trong dòng họ qua các thế hệ, nhờ vậy mà con cháu về sau, có thể biết được nguồn gốc, công đức, sự việc, tên húy, ngày kỵ giỗ của ông bà, tổ tiên và đồng thời cũng biết được bà con thân thuộc trong họ tộc. Qua đó khơi gợi truyền thống dòng họ, thấy được ý chí và ước vọng của tiền nhân, tăng cường gắn kết trong họ tộc, cũng như rút ra các bài học quí giá.

Gia phả chính, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đã mất mát hết. Vì vậy chúng tôi, là con cháu đời thứ 12 và 13, tự thấy có trách nhiệm biên soạn lại quyển Gia phả của dòng tộc Nguyễn Văn ở thôn Tư - Đại An - Đại Lộc - Quảng Nam. Sau một thời gian sưu tầm gom góp tài liệu, thông tin và hiệu chính, đến nay chúng tôi thấy phải khẩn trương biên soạn quyển Gia phả. Mặc dù còn thiếu sót, có điểm chưa rõ ràng, nhưng không thể nào chờ đủ các dữ kiệu; nên Gia phả này cũng một phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về dòng họ của con cháu hậu duệ về sau. Quyển Gia phả của dòng tộc Nguyễn Văn ở thôn Tư, Đại An, Đại Lộc – nay là Thôn Phú Hòa, xã Đại Lộc – thành phố Đà Nẵng được chia làm các phần như sau:

  • Phần I : Từ thế kỷ thứ 10 :Ngài Nguyễn Bặc (924-980) đến ngài Nguyễn văn Cầu(1587-1649)
  • Phần II (1649-1829) : Từ thế kỷ thứ 17 (1649) đến đời ngài Nguyễn Văn Tố (1829)
  • Phần III (1829-2015) : Từ đời ngài Nguyễn Văn Tố, đời thứ 8 đến con cháu đời thứ 15
  • Việc xây dựng gia phả là một việc làm hết sức khó khăn. Vì thực hiện trong một thời gian ngắn, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Công việc xây dựng gia phả lại là công việc cần được tiến hành thường xuyên và liên tục, mong rằng toàn thể bà con tộc họ NGUYỄN VĂN chúng ta hãy cùng nhau tiếp tục góp sức xây dựng, bổ sung để gia phả của chúng ta ngày càng hoàn chỉnh.

    Biên soạn Mùa Thu Ất Mùi 2015
    Chỉnh lý bổ sung Mùa Xuân Năm Bính Ngọ 2026

    NỘI DUNG

    DÒNG HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    Tộc NGUYỄN VĂN - Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 17 (924-1649)

    Họ Nguyễn xuất hiện tại Việt nam rất sớm, từ thuở sơ khai, từ trong truyền thuyết Sơn Tinh (Nguyễn Tuấn) - Thuỷ Tinh, Lạc tướng đời Vua Hùng, các nhân vật Thứ Sử đất Giao Châu Nguyễn Phu, Biệt giá Giao Châu Nguyễn Lãng, Thứ Sử Giao Châu Nguyễn Di Chi, Nguyễn Siêu v. v.

    Tuy nhiên, vì không xác định được nguồn gốc tổ tiên một cách rõ ràng chính xác, nên các dòng họ Nguyễn ở nước ta về sau, khi nghiên cứu và viết gia phả, đều chấp nhận lấy Đức Thái Tể Nguyễn Bặc làm Thủy Tổ và nhận Gia Miêu (Tống Sơn - Thanh Hóa) làm nguyên quán. Đặc biệt là các cuốn: Gia phả họ Nguyễn - Hàn Thuyên, Nguyễn gia thế phổ đồ ký - Nguyễn Lữ 1515, Nguyễn tộc thế phả - Nguyễn Văn Thành, Cội nguồn và Nghiên cứu phần thượng phả dòng họ Nguyễn –UNESCO VN.

    Thuỷ tổ NGUYỄN BẶC, sinh năm 924, mất ngày 15/10 Kỷ Mão (979), thọ 56 tuổi, được phong tước Đại Quốc Công dưới thời Đinh Tiên Hoàng. Ngài Nguyễn Bặc quê ở Sách Bồng nay là thôn Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đến thời nhà Hồ, con cháu đời thứ 13 (Nguyễn Công Duẫn), dời về sinh sống tại Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hoá. Nơi đây được coi là quê phát tích các dòng tộc Nguyễn sau này.

    Từ ngài Nguyễn Bặc đến đời ngài NGUYỄN VĂN CẦU, Thỉ tổ của dòng họ Nguyễn Văn - Thôn Tư và Hóa Phú, xã Đại An - là 23 đời, có ghi lược kể từng đời.

    Từ đó ta có thể ước tính mỗi đời bình quân 30 năm. Vì có đời 20 năm, có đời 40 năm. Có đời sinh 3, 4 cô con gái rồi mới sinh con trai, chứ không phải đời nào, nhà nào cũng sinh con trai đầu lòng. Do vậy nếu ta tính 20 đến 25 năm cho mỗi đời sẽ không chính xác. Ta tạm tính 23 đời x 30= 690 năm, cộng với năm sinh của ngài Nguyễn Bặc : 924 + 690 - 30= 1584. Như vậy, ngài Nguyễn Văn Cầu sinh vào khoảng năm 1584.

    Căn cứ theo bia ghi ở phần mộ, khi tu bổ, con cháu xem thấy ghi đại lược như sau :

    Bia Ngài N Q Công

    Dòng chữ ghi trên bia mộ Ngàì Nguyễn Quý Công

    Theo số liệu này, Ngài Thỉ Tổ của tộc ta qua đời vào năm Kỷ Sửu (1649), tháng 7, ngày tốt. Chúng ta tạm lấy ngày 15.7 Âm lịch để làm ngày giỗ Ngài, vừa kết hợp với lễ rằm Vu Lan. Từ đó, có thể tính ra năm sinh và tìm ra tuổi thọ của ngài như sau : 1649 - 1584 = 65 năm (tức ngài thọ được 66 tuổi)

    Như vậy phần I đúc kết từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 17 (924-1649 = 735 năm) là hơn 7 thế kỷ, gồm có 23 đời. Ngài Nguyễn Văn Cầu ở vào đời thứ 23, sinh vào thế kỷ 16 (1584 -1649).

    Tộc NGUYỄN VĂN Làng Hóa Trung - Từ thế kỷ thứ 17 đến thế kỷ 19 (1649 - 1829)

    Sự phát triển của tộc Nguyễn Văn – làng Hóa Trung, xã Đại An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam được tính căn cứ vào thời ngài Nguyễn Văn Cầu vào xây dựng vùng đất Hoá Trung thuộc tỉnh Quảng Nam đến nay là 431 năm. Tính theo năm sinh của ngài Nguyễn Văn Cầu – 1584, thời điểm ngài đến lập nghiệp tại Hóa Trung có thể suy đoán là năm 1614 - khoảng độ tuổi khi ngài vào lập nghiệp là tuổi 30. Từ đó đến nay hơn 400 năm - là thời gian phát triển của tộc Nguyễn Văn tại làng Hóa Trung – nay là Thôn Phú Hòa – xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng.

    Như vậy có thể kết luận ngài Thỉ Tổ Nguyễn Văn Cầu đã vào khai thác vùng đất làng Hóa Trung - thôn Tư và thôn Hóa Phú xã Đại An ngày nay từ đầu thế kỷ thứ 16.

    Do lịch sử có nhiều biến động, hơn nữa việc đi tìm đất mở mang bờ cõi có nhiều thay đổi, nên việc tìm cội nguồn rất khó chính xác. Do vậy, chúng ta chưa xác định rõ là ngài Thỉ Tổ gốc ở đâu cho chính xác. Điều chắc chắn là các ngài từ miền Bắc vào mở mang bờ cõi. Theo thông tin truyền miệng, ngài xuất thân ở vùng Thanh Hoá hoặc Hải Dương.

    Về điều kiện giao thông lúc bấy giờ khó khăn vô cùng, từ vua quan đến dân đều dùng thuyền buồm nhỏ, có gió mới đưa thuyền đi được, còn trên bộ thì chỉ có ngựa, trâu bò và voi, chứ không có phương tiện gì khác. Về dụng cụ sản xuất, thì chỉ có phương tiện tự chế như cuốc xẻng dao rựa. Việc xây dựng nhà cửa, hầu hết làm nhà tranh phên tre nứa, chứ không có nhà xây. Đường xá đi lại rất khó khăn, như ta đi rừng ngày nay vậy. Nói tóm lại, vùng đất các ngài vào khai hoang không có lối đi, đất thì gồ ghề theo tự nhiên, chứ không có bàn tay con người chăm sóc. Cũng may nhờ có Hội An là nơi hội tụ các loại thuyền bè các nước ghé lại nghỉ chân và giao thương, mới có dịp tiếp xúc khoa học kỹ thuật các nước, đem lại nhiều phương tiện để chúng ta khai thác; và lần hồi mới có cuộc sống ổn định. Có lẽ lúc bấy giờ, ngài Nguyễn Văn Cầu cùng với các con trai vào khai thác, còn vợ để lại quê cũ, nên chỉ có mộ ông mà không có mộ bà. Lúc bấy giờ, cả vùng rộng lớn Hoá Trung, Hoá Phú, Hoá Đại không có giếng nước, chỉ sử dụng nước mưa và nước sông. Mãi đến thế kỷ 19-20 mới đào giếng để sử dụng.

    Theo chứng tích các ngôi mộ còn lại, đa số là ụ đất tròn bằng chiếc nón lá, không có bia; sổ sách cũng không có ghi lại bất cứ thứ gì. Hơn nữa, câc cuộc chiến tranh và thiên tai đã huỷ diệt hết, nên con cháu căn cứ vào số lượng mồ mã nằm rãi rác ở thôn Tư và Hóa Phú ước độ 15 hecta (300m x 500m) để xác định ranh giới và tìm mộ. Lúc bấy giờ, địa thế đất của các ngài khai thác đến sát sông : phía Bắc và phía Tây giáp sông Quảng Huế, đường từ đông sang tây khoảng 300m, đường từ bắc sang nam 500m, khoảng 15 ha.

    Nói tóm lại, từ đời ngài Nguyễn Văn Cầu vào khai thác ở vùng đất kể trên mãi đến đời thứ 4, khoảng hơn một thế kỷ. Khi ngài qua đời (năm Kỷ Sửu), các cháu đời thứ 4 của ngài là cụ Nguyễn Văn Nhiên và Nguyễn Văn Tiện, chia vùng đất của tổ tiên khai thác làm hai phần. Cụ Nguyễn Văn Nhiên (Tiền Hiền Nguyễn Văn làng Hoá Trung) ở về phía Tây. Còn phía Đông giao cho người em là cụ Nguyễn Văn Tiện. Theo địa giới đường đi và mồ mã, thì phía đông từ đường Bắc Nam, đường vào nhà thờ tộc Trần (Hóa Phú) đến Bắc Nam, đường vào nhà ông Tung và ông Thê, trở lên phía Tây bờ sông là phần của ông Nguyễn Văn Nhiên.

    Khi huyện Đại Lộc được thành lập, chia lại các thôn xã vùng này, thì hai ông ở hai làng khác nhau. Cụ Nguyễn Văn Nhiên ở phía Tây, thuộc địa phận Hoá Trung, còn cụ Nguyễn Văn Tiện ở phía Đông, thuộc địa phận làng Hoá Phú. Từ đó, sinh hoạt khác nhau, mỗi khi có việc cúng lễ có liên quan mới cùng nhau đóng góp lo việc chung của tộc. Còn lại việc cúng tế xuân thu mồ mả, phần ai nấy lo ở địa phận của mình. Do đó mà hiện nay các vị đời thứ 2 và 3 cũng như mộ ngài Thuỷ tổ đều nằm trên đất thôn 5 Hoá Phú. Mãi đến nay chỉ tìm được mộ ngài Thỉ tổ Nguyễn Văn Cầu, còn 2 đời kế tiếp chưa tìm được tên tuổi và phần mộ. Vì mộ thì nhiều nhưng không có bia hoặc đá làm chứng tích. Hơn nữa, chiến tranh loạn lạc, kẻ còn người mất, con cháu hậu sinh đành ngậm ngùi trăn trở, chưa có cơ sở để truy tìm, lo cho phần mộ nơi yên nghĩ của các bậc tiền bối.

    Riêng thôn Tư - Hoá Trung có mộ ông bà Tiền Hiền, còn tiếp theo đời thứ 5 và 6 cũng chưa xác định được quý danh và phần mộ. Như vậy tất cả từ đời thứ 1 -ngài Nguyễn Văn Cầu- đến đời thứ 8 -ngài Nguyễn Văn Tố, chỉ xác định được các đời thứ 1 + 4 + 7 + 8, còn các đời 2 + 3 + 5 + 6 (4 đời) chưa tìm được phần mộ và quý danh của các cụ.

    Về phần II, từ ngài Nguyễn Văn Cầu đến ngài Nguyễn Văn Tố, đến đây tạm khép lại, sẽ củng cố lại gia phả từ đời thứ 8 đến 14 rõ ràng, để lưu lại mai sau.

    Tộc NGUYỄN VĂN Làng Hóa Trung – Từ thế kỷ thứ 19 đến thế kỷ 21 (1829 - 2025)

    Phần III : Căn cứ theo phần I và II ghi trên, từ ngài Thỉ Tổ đến đời ngài Nguyễn Văn Tố là 8 đời, hơn 2 thế kỷ (1829 -1649 + 60 năm = 240 năm).

    Một khoảng thời gian dài như thế, nhưng sự phát triển nhân lực của tộc không tăng lên nhiều. Lúc bấy giờ, ở làng Hoá Trung, tộc Nguyễn Văn chỉ có ngài Nguyễn Văn Tố, và thôn Hoá Phú cũng vậy, chỉ có một người. Mãi đến nay, Hoá Phú cũng chỉ còn ông Nguyễn Văn Khuê, là đại diện cho tộc Nguyễn Văn ở Hoá Phú.

    Về phần mồ mã, đến đời thứ 8, cũng có phần thay đổi. Bởi vì vùng đất quý ngài khai thác chia làm 2 phần, thì nay đã nhường hầu hết cho các tộc khác ở; do đó việc mai táng phải đi xa hơn thôn cũ.

    Phần mộ ngài Nguyễn Văn Tố an táng tại thôn Quảng Hoá, giáp giới với thôn Hoá Phú. Và phần mộ ngài đời thứ 7(có lẽ là thân sinh của ngài Nguyễn Văn Tố), cũng ở Quảng Hoá, nằm trên lô 5 mẫu của bà Cửu Hoà. Khi có chủ trương cải táng tập trung, phần mộ ngài Nguyễn Văn Tố đã được di dời để đem cải táng ở Gò Cà, việc này do cụ Nguyễn Văn Trưng chủ trì. Lúc bấy giờ chỉ biết ngài là ông Tổ của tộc Nguyễn Văn, chứ không xác định rõ quý danh. Hơn nữa, ngài Nguyễn Văn Tố là người được cụ Nguyễn Văn Trưng thờ cúng giỗ hằng năm (26/3 ÂL). Mãi đến khi truy tìm cội nguồn để lập gia phả, mới biết cụ là người đứng đầu dòng tộc từ đời thứ 8 trở về sau.

    Để dễ tìm cội nguồn thứ lớp, ở vào đời thứ mấy và vị thứ trong gia tộc, cần gắn số phả hệ cho từng người. Số phả hệ gồm 3 số hạng : số đầu chỉ đời - tính đời thứ 1 là đời của ngài Nguyễn Văn Cầu, số hạng giữa là số để xác định cá nhân là con của ai - tức là số chỉ vị thứ của vị thân sinh cá nhân ở đời trên, số hạng cuối chỉ vị thứ của cá nhân ở đời hiện hữu. Như vậy số thứ tự đời và vị thứ trong đời (số đầu và số cuối) là số định danh của mỗi cá nhân trong gia phả; số giữa là số xác định vị thân sinh - thân mẫu của mỗi cá nhân.

    Ví dụ : người mang số phả hệ 13.02.05 có nghĩa:

  • số hạng đầu 13: vị này ở đời thứ 13
  • số hạng giữa 02 : vị này là con của ông có vị thứ số 2 của đời thứ 12
  • số hạng cuối 05 : vị này được xếp vị thứ 5 trong đời thứ 13.

    Việc lập gia phả hiện tại khuyến khích con cháu ngoại tham gia sinh hoạt dòng tộc, cũng như thiếu sự liên kết, tìm hiểu cội nguồn giữa các tộc. Việc ghi gia phả bổ sung thêm nữ phái phần thông tin đến đời con cháu ngoại. Việc đánh số thứ tự bổ sung như sau :

  • Đối với vợ chồng hôn phối của thành viên tộc Nguyễn: thêm chữ “P” vào sau số hạng cuối. Trường hợp tái hôn, ghi là P2, P3 v. v. .
  • Con của nữ phái tộc Nguyễn: thêm chữ “R” vào sau số hạng cuối để chỉ con cháu ngoại
  • Cháu dâu rễ của nữ phái tộc Nguyễn: thêm chữ “RP” vào sau số hạng cuối

    Hy vọng với cách đánh số thứ tự gia phả như trên, sẽ giúp việc ghi chép, tra cứu gia phả và phân biệt vai thứ trong dòng tộc được dễ dàng và thuận tiện.

    Để quy tắc cấp mã định danh trên gia phả được tuân thủ, cần thiết phải cập nhật mã định danh khi có sự bổ sung thành viên con cháu mới sinh. Việc này sẽ thực hiện trước mỗi kỳ đại hội tộc theo nhiệm kỳ 5 năm

    Nghĩa trang, mộ phần của các thành viên – nhất là các bậc tiền bối cần được số hóa và lưu trữ định vị GPS để con cháu muôn đời sau có thể tìm về hương khói.

  • Nguyễn Văn - Làng Hóa Trung -Sự phát triển của các thế hệ

    Tóm tắt các đời 8-9

  • Lúc bấy giờ ruộng đất để lại khá rộng, nhưng chỉ có một vị kế tộc là ngài Nguyễn Văn Tố. Do các đời trước các cụ làm ăn khá giả, nên đất ruộng vẫn giữ nguyên, và đường học vấn chữ Nho cũng khá. Cụ lập gia đình và sinh hạ được 6 người con. Các con trai đều cho học chữ Nho và hai người con gái có chồng các làng lân cận. Do có tiềm năng kinh tế, nên các con trai không vất vả về nông nghiệp. Cụ con cả là ông Thủ Di có vợ thuộc gia đình giàu có nhất thôn. Còn các cụ con thứ 2, 3 và 4 đều theo nghề ca nhạc cổ truyền, con thứ 6 là ông xã Dung làm Lý trưởng. Một phần lớn đất đai đã được nhượng lại cho các tộc khác đến ở sau. Chỉ có cụ Nguyễn Văn Di thì vẫn còn đất và duy trì chia lại cho các con cháu sau này.
  • Qua tìm hiểu, theo lời các cụ già kể lại, các vị đời thứ 8 và 9 của tộc Nguyễn Văn hầu hết sống nhàn hạ do được thừa kế đất ruộng của đời trước để lại. Các ngài đã rất phóng khoáng nhượng lại đất cho các hộ khác đến sau để làm nhà, lập vườn. Thú ăn chơi của các cụ là đánh bài trùng giã, bài xệp, đá gà, chơi pháo và nhạc cổ v. v…
  • Việc nhà cửa lúc bấy giờ chưa có xi măng để xây nhà, chỉ dùng vôi, mật, nước lá bời lời để trộn vôi xây nhà. Tộc Nguyễn Văn thời ấy chưa có nhà xây lợp ngói, chỉ có nhà tranh, nhưng cũng rất khang trang ấm cúng. Cụ thể là vườn rộng, có cổng ngõ bằng trụ, cây chè tàu xắn vuông như cây trụ và hàng rào. Từ ngõ đến sân thẳng tắp xếp hai bên rất đẹp. Nhà tranh nhưng xây dựng kiên cố, bốn phía chân nền trồng loại “ cỏ tiên” xanh đen rất đẹp, lại bảo quản không cho nước xói đất. Nền nhà khi xây dựng có rải muối lớp trên, giữ cho đất có độ ẩm, sát trùng cao và bằng phẳng rất đẹp. Trước nhà thì trồng mai và các cây trái chung quanh như mít, ổi, chuối, bòng, mãng cầu ra trái sum suê, trước sân trồng đủ các loại rau. Mùa nào thức ấy rất tươi mát và sử dụng cho bữa ăn rất đầy đủ các chất; lại còn nuôi gà vịt, lợn, gà đá … nên lúc nào nhà cửa cũng nhộn nhịp ấm cúng.

    Tóm tắt đời 10

  • Đời thứ 10 chỉ có 6 vị có gia đình, và 3 vị mất sớm ( chưa có gia đình 2 vị, không có con trai 1 vị)
  • Sự phát triển của đời thứ 10 là ổn định chứ không có gì nổi bật. Do nhân lực ít và tập trung vào nông nghiệp tại địa phương, chưa có sự giao lưu nhiều với bên ngoài nên không phát triển kinh doanh kinh tế được. Hơn nữa, ở vùng quê ta thuộc diện đất tân bồi, làm hoa màu, trồng dâu, bắp, thuốc lá thì tốt, còn lúa thì lụt lội mất mùa liên miên. Dân cư đông đúc, nhưng không có cánh đồng lúa lớn như ở nơi khác. Hằng năm, đến lúc lúa trổ, thì gặp lúc lụt lội cao điểm, nên luôn luôn bị thất thu mùa lúa tháng 10.
  • Về tham gia chính quyền, chức vụ cao nhất các cụ tham gia là làm Lý trưởng. Ý tưởng xuất thân rời quê hương lập nghiệp không được phát huy.

    Tóm tắt đời 11 Đời thứ 11 tất cả có 13 vị, nhưng thực tế 4 vị ở tại địa phương (số 2, 4, 10, 11). Số còn lại, hoặc mất khi chưa lập gia đình (8 + 9), hoặc đi làm ăn xa xứ (cụ thể số 12, 13, 18, 19, 22, 26). Trong 6 vị này, chỉ có cụ Bốn Điền (thứ 12 của đời 11) sau năm 1975 mới về ở lại quê cũ. Suốt 30 năm chiến tranh (1945 - 1975), việc tu bổ phần mộ cũng như xây dựng Từ đường không thực hiện được. Về kinh tế và văn hoá, các vị vẫn được lưu danh về phong cách sống thanh bạch ở địa phương cũng như trong tộc họ con cháu, dù chưa có các thành tích nổi bật.

    Tóm tắt đời 12

  • Đời thứ 12 gồm có 21 thành viên, nhưng thực tế chỉ có 11 thành viên cư trú ở gần, lo việc chung của tộc, còn lại là mất sớm hoặc ở xa không liên lạc được. Về đời sống kinh tế cũng tạm ổn. Nhờ có một số thành viên đi lập nghiệp ở thành phố có điều kiện phát huy học thêm và tích cực tham gia việc tộc, nên kết quả tương đối khá.
  • Đã triển khai xây dựng Từ đường tộc, với diện tích cả nhà đất 200m2, có nơi thờ phụng tổ tiên. Trùng tu lại tất cả phần mộ của các vị quá vãng từ đời số 1 đến 12. Xây và dựng bia để con cháu đời sau dễ tìm. Lập lại gia phả toàn tộc, để lưu lại cho con cháu đời sau. Việc học hành, chỉ hết chương trình phổ thông, cao đẳng, chứ chưa có đại học.
  • Địa vị xã hội và sự phát triển kinh tế của các thành viên trong tộc đã được ổn định và cải thiện. Đã có những thành viên rời quê lập nghiệp tại các thành phố với kinh tế tạm ổn.

    Tóm tắt đời 13

  • Theo sơ bộ, đời thứ 13 có 20 thành viên. Nhưng thực tế chỉ có 8 thành viên tham gia đầy đủ, còn lại 12 thành viên khác việc quan hệ với tộc còn hạn chế; do chưa trưởng thành hoặc có gia đình nhưng ở xa.
  • Việc học hành và kinh tế được tiến bộ hơn các đời trước. Có học vị thạc sĩ, đại học v. v. . nhiều hơn các đời trước, có phương tiện đi lại cũng tốt và nhất là điều kiện hiểu biết ngoại ngữ khá nên đi lại nhiều nước giao lưu và học tập, tham quan có phần tốt hơn các thế hệ trước, kinh tế cũng tạm khá hơn.
  • Đời 13 và các đời sau sẽ phát huy nhiều hơn nữa để đền đáp ơn trên và tiếp tục việc hướng về cội nguồn cho tốt.
  • LƯỢC SỬ VÀ ĐỊA LÝ LÀNG HOÁ TRUNG

    Lịch sử phát triển làng Hóa Trung
  • Vùng đất Đại Lộc xưa kia thuộc đất Lâm Ấp - Chiêm thành
  • Năm 1307,vua Trần Anh Tông tiếp thu 2 châu: Châu Ô và Châu Rí, di dân khẩn hoang, lập ấp và đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu (Nam Hải Vân ).
  • Năm 1402, Hồ Quý Ly chia Hoá Châu- gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lủy - lập thành 4 Châu là Thăng Châu (Thăng Bình ), Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu (Quảng Ngãi), di dân canh tác và đặt quan An phủ sứ cai trị.
  • Năm 1470, vua Lê Thánh Tông, sau trận đại thắng, bắt được vua Chiêm Thành là Trà Toàn, chia Chiêm Thành ra làm 3 nước nhỏ. Lấy lại Hóa Châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lủy lập thành Ðạo Quảng Nam, gồm có 3 Phủ và 8 Huyện (tiền thân của Nam, Ngãi, Bình và Phú ), địa danh QUẢNG NAM bắt đầu xuất hiện từ đây.
  • Đời vua Thánh Tông, năm 1466, chia cả nước làm 12 đạo Thừa tuyên, trong đó có Thuận Hoá. Thuận Hoá Thừa tuyên gồm 2 phủ: Triệu Phong và Tân Bình. Phủ Triệu Phong có 6 huyện, 2 châu; trong đó có huyện Điện Bàn quản 12 tổng, 96 xã.
  • Theo Ô Châu cận lục (1553), thì vào thời bấy giờ huyện Điện Bàn (bao gồm đất Đại Lộc ngày nay, vì thuở đó huyện Đại Lộc chưa ra đời) gồm có 66 xã; trong đó có một số tên xã về sau này thuộc Đại Lộc như: Phiếm Ái (Đại Nghĩa), Gia Cốc (Đại Minh), Quảng Huế (Đại An). . .
  • Đạo Thừa tuyên Quảng Nam sau đó (1490) đổi lại gọi là Xứ Quảng Nam, năm 1520 gọi là Trấn Quảng Nam.
  • Từ năm 1471 đến 200 năm tiếp theo (1471-1671), những cuộc di dân ồ ạt với những lý do về kinh tế hoặc chiến tranh, thiên tai, cho nên việc di dân trên diện rộng từ Thanh Hóa, Nghệ An… vào là điều đương nhiên.
  • Đầu năm Chánh Trị (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, rất đông quan, quân nghĩa dõng hai trấn Thanh Hóa, Nghệ An cũng mang cả gia đình vào Nam.
  • Năm Canh Tý (1600), nhân có khởi loạn ở Đàng Trong, ông tâu xin vua Lê và Trịnh Tùng cho ông đem quân vào phủ dụ. Nguyễn Hoàng huy động toàn bộ binh tướng, thuộc hạ dưới quyền, kể cả những người dân ở hai huyện Hải Hậu và Giao Thủy thuộc Nam Định cũng đồng lòng đem vợ con lớn bé cùng đi theo.
  • Năm 1604, Nguyễn Hoàng lập dinh Quảng Nam, lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong nâng lên làm phủ Điện Bàn (quản 5 huyện là Tân Phước, An Nông, Hoà Vinh, Diên Khánh, Phúc Châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Như vậy từ năm 1604, huyện Điện Bàn không còn nằm trong Thuận Hoá nữa.
  • Từ 1602 - 1631, giai đoạn di dân mạnh nhất và là cuối cùng với việc chúa Nguyễn xây lũy Trường Dục và luỹ Nhật Lệ. Từ năm 1631 - 1671, hiện tượng di dân chấm dứt. Năm 1671 đất nước chia làm Nam - Bắc lấy sông Gianh làm ranh giới, bắt đầu 115 chia cắt (1671 – 1786)
  • Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Lan (1648), có chủ trương vận động khai khẩn lập ấp theo nhóm 50 người. Nhờ chính sách này, vùng Điện Bàn đến Phú Yên mới có quan cảnh trù mật, làng mạc nối liền nhau (Việt sử xứ Đàng Trong, tr 387).
  • Thời Nguyễn Phước Khoát, thuế khóa phức tạp, nặng nề, lạm thu. Thuế thổ sản có hàng ngàn thứ, tính cả sản vật nhỏ nhặt. Năm 1741, truy thu thuế của cả những người bỏ trốn, lại có lệnh truy thu thuế còn thiếu của 10 năm trước.
  • Thất bại trước những đụng độ với Xiêm La cộng với sưu thuế nặng nề cùng tham nhũng tại địa phương khiến chính quyền họ Nguyễn suy yếu thêm. Đó là thời cơ để Tây Sơn khởi nghĩa chống lại.
  • Thời Tây Sơn, (1771-1800), vùng đất Nam Ngãi thuộc quản lý của Tây Sơn trong suốt 30 năm. Điều đáng chú ý của giai đoạn này là, nhà Tây Sơn lập nhiều chiến công hiển bách, nên phải huy động toàn bộ dân đinh trong vùng từ 15 tuổi đến 60 tuổi vào lính, nhằm cung cấp nhân lực cho các cuộc chiến với chúa Trịnh -Nguyễn,chống quân Thanh, quân Xiêm và cả cuộc chiến nội bộ.
  • Dưới thời Gia Long, năm 1803 lấy đất hai phủ Thăng Hoa và phủ Điện Bàn đặt làm Quảng Nam dinh, năm 1827 đổi là trấn Quảng Nam, đến năm 1832 đổi thành tỉnh Quảng Nam. (Việt sử xứ Đàng Trong, trang 125.)
  • Căn cứ vào các sổ địa bộ của dinh Quảng Nam lập vào năm 1814 – 1815, dinh chia thành 2 phủ: Điện Bàn và Thăng Hoa. Phủ Điện Bàn gồm huyện Hòa Vang và châu Diên Khánh. Châu Diên Khánh lúc ấy bao gồm cả đất Đại Lộc ngày nay.
  • Theo Đồng Khánh địa dư chí, (tỉnh Quảng Nam - trang 1452) có ghi:
  • Tổng Mỹ Hoà Trung (Diên Phước) 28 thôn, châu. (Mỹ Hoà, Giáo Ái đông giáp, Thuý La,Thi Lân,Thượng Phước, Quảng Hoá Phú, Đa Hoà, Thi Lân, Bảo Luân, Quảng Hoá An, Quảng Hoá Trung, Giáo Ái Trung, Quảng Hoá Tây, Quảng Hoá Đại An, Quảng Hoá Đông, Quảng Hoá Đại, Bào Nghi Tây, Ái Mỹ Đông, Bảo Nghi Đông, Bình An, Thạch Bộ, Hoà Mỹ, Ái Mỹ Tây, Giáo Ái Tây, Giáo An Giao Thuỷ, Phiếm Ái, Bảo Sơn)
  • Đến đời Thành Thái(năm 1900 ) chính thức cắt 2 tổng Đại An, Mỹ Hòa của huyện Diên Phước và 3 tổng Đức Hòa, An Phước, Phú Khê của huyện Hòa Vang hình thành huyện Đại Lộc (Chân núi lớn). Huyện Đại Lộc lúc này có 5 tổng, 109 xã, thôn, phường, châu. (bao gồm cả Hiên và Giằng) Như vậy, đến nay huyện Đại Lộc, về mặt hành chánh, đã ra đời đúng 115 năm.
  • Đến năm 1919, huyện Đại Lộc lúc bấy giờ có 6 tổng, 103 xã, phường, châu, thôn(bao gồm cả Hiên và Giằng). Sáu tổng là: tổng Đại An (34 xã, châu, thôn), tổng Đức Thượng (13 xã, thôn), tổng Hòa Đạo (9 xã), tổng Đức Hạ (15 xã, thôn), tổng Phú Khê (7 xã, phường, thôn) và tổng Mỹ Hòa(gồm 25 xã, châu, thôn)
  • Tháng 2/1946, cắt một số xã thuộc Tổng An Lễ, Phú Mỹ(Duy Xuyên) về huyện Đại Lộc ( nay là Đại Minh, Đại Phong, Đại Chánh).
  • Tháng 3/ 1948, thành lập huyện Giằng, chia Đại Lộc lại thành 11 xã - gọi là ẩp Trung Lập, xã Lộc Khương quận Đại Lộc
  • Tháng 7/1962,gọi là thôn Hoá Trung, xã Lộc An quận Đại Lộc.
  • Tháng 6/1993, đổi thành thôn Tư, xã Đại An, huyện Đại Lộc
  • Năm 1990 thôn Tư, xã Đại Hoà (sáp nhập)
  • Tháng 3/2007 thôn Tư, xã Đại An huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
  • Hiện nay, Đại Lộc có 18 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 1 thị trấn và 17 xã: Đại Đồng, Đại Hiệp, Đại Nghĩa, Đại An, Đại Quang, Đại Lãnh, Đại Hưng, Đại Minh, Đại Cường, Đại Thạnh, Đại Thắng, Đại Phong, Đại Hồng, Đại Hòa, Đại Chánh, Đại Tân, Đại Sơn, Thị trấn Ái Nghĩa.
  • Đại An bao gồm 10 thôn: Quảng Huế - Đông Tây - Bàu Tròn - Hóa Phú - Phú Lộc - Ái Mỹ - Nghĩa Nam - Thôn Tư - Quảng Yên - Phước Yên
  • Riêng Thôn Tư gồm 3 thôn cũ là Hoá Trung, Hoá Đại và Quảng Hóa, nên không đổi về tên thôn cũ.
  • Năm 2025, nhà nước quyết định tổ chức chính quyền 2 cấp. Tỉnh Quảng Nam bị sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng. Huyện Đại Lộc được tổ chức lại do bỏ cấp huyện, trở thành xã Đại Lộc – gồm các xã cũ Đại An, Đại Hòa, Đại Nghĩa, Đại Hiệp và trị trấn Ái Nghĩa. Quê hương Hóa Trung nay thuộc địa danh Thôn Phú Hòa, xã Đại Lộc – thành phố Đà Nẵng
  • CÁC CON SÔNG Ở ĐẠI LỘC
  • Sông Thu Bồn phát nguyên từ núi Ngọc Lĩnh (Nam Quảng Nam – Bắc Kon Tum), phần thượng lưu được gọi là Dak Di. Sông chảy ngược ra phía Bắc qua Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức. Khi qua đây sông nhận thêm nhiều lưu lượng từ các sông Trâm, sông Tiên, sông Tranh, sông Ngang đổ vào. Vào địa phận Quế Sơn, Duy Xuyên mới bắt đầu được gọi là sông Thu Bồn. Ở Quế Sơn, sông đổi theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Khi đến ranh giới giữa Duy Xuyên và Đại Lộc sông Thu Bồn hợp lưu cùng sông Vu Gia tại Giao Thủy, rồi chia làm hai nhánh bao bọc Gò Nổi, chảy qua chợ Củi (Sài Giang), Câu Lâu, xuôi về Hội An và đổ ra Cửa Đại.
  • Sông Vu Gia (Ô Gia) ở phía Bắc tỉnh Quảng Nam. Sông bắt nguồn từ vùng núi tỉnh Quảng Nam và Bắc Kon Tum. Phần thượng nguồn ở Phước Sơn được gọi là Dak Mi, sông chảy theo hướng Nam- Bắc. Khi qua địa bàn Nam Giang, sông được gọi là sông Cái. Tại đây, nhận một chi lưu phía Tây là sông Giằng. khi chảy sang huyện Đại Lộc, sông được gọi là Vu Gia và có dòng chảy theo hướng Đông -Tây. Sông Vu Gia chảy đến Đại An thì tách ra làm hai dòng, một là sông Yên chảy lên phía Bắc hội lưu với sông Cầu Đỏ, một đoạn đi về phía Nam hội lưu với sông Thu Bồn gọi là sông Quảng Huế (cũ). Sông Quảng Huế (mới) là đoạn cửa mới mở ở Đại Cường, đã chỉnh trị.
  • Làng Hoá Trung nằm tiếp giáp với sông Quảng Huế (cũ). Mùa mưa lụt, có năm liền tiếp nhiều trận lớn nhỏ làm thất bát lúa mùa chính vụ (tháng 10). Những trận lụt lớn như năm Tỵ (1917) và Năm Thìn (1964) nước lụt mênh mông cuốn phăng tất cả những gì cản ngăn dòng chảy: nhà cửa, cây cối, vật nuôi, hoa màu và cả sinh mạng. Tuy nhiên, những trận lụt vừa và nhỏ cũng giúp ích một số mặt đáng kể: con lụt đầu mùa là dịp bà con ta đua nhau đi bắt dế, bắt cá rầm bằng các loại công cụ: lờ, rút, trũ. . , cũng như vớt được không ít củi gỗ. Mùa mưa lụt, đồng áng bị đình trệ, đường sá trơn trượt, bùn ngập ống chân, đi lại khó khăn; nhưng cũng diệt trừ bớt côn trùng địch hại, mang lại phù sa bồi đắp các bãi đồng.
  • Làng Hoá Trung nằm trong khu vực trung du sơn cước, gần bãi bồi ven sông, nên phát triển với nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng các loại hoa màu: đậu, bắp, khoai, ớt, thuốc lá, dưa hấu. Ngoài ra, còn có nghề đan tre khi nông nhàn.
  • Hiện nay(2015), hệ thống thủy điện dày đặc ở thượng nguồn(A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Giằng, Đak Mi 1; Đak Mi 4, Sông Côn 2 ) thêm nạn khai thác đá sỏi và vàng, khoáng sản bừa bãi đã làm đảo lộn cuộc sống vùng hạ lưu bằng những trận lụt khủng khiếp do các hệ thống thủy điện xả lũ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái môi trường và sinh hoạt của người dân. Các dòng sông phần lớn bị ô nhiễm trầm trọng và cạn kiệt.
  • Về mặt giáo dục, mãi đến khi huyện Đại Lộc được thành lập (1900) mới có trường dạy chữ Nho được mở, gọi là huyện học. Bà con tộc Nguyễn Văn cũng như phần lớn nhân dân Đại Lộc lúc bấy giờ, không có ai đỗ đạt. Trường tiểu học Mỹ Hòa được người Pháp thành lập năm 1915, cũng chỉ dạy tới Lớp Ba, gọi là Sơ học Yếu lược. Đến trước 1975, toàn huyện chỉ có 1 trường Trung học, tỉ lệ mù chữ còn gần 30%. Sau 1975, với các phong trào “bình dân học vụ”, ” xoá mù chữ”, phổ cập trung học, khuyến học. . việc giáo dục ngày càng phát triển.
  • DI TÍCH LỊCH SỬ

    Đình Không Chái thôn Hóa Phú

    Đình làng Hóa Trung

    Đình làng Hóa Trung

    Ngôi đình có tên là đình Quảng Huế, còn có tên gọi khác là đình Hóa Phú hay Quảng Phú - là ngôi đình của vùng đất “Thất Châu” tức 7 châu vùng Quảng Huế (Quảng Đại, Quảng An, Quảng Phú, Quảng Hóa, Quảng Trung, Quảng Đông và châu Quảng Tây), thuộc phủ Triệu Phong, huyện Điện Bàn,

    Cũng trên đất Đại Lộc, đình Ái Nghĩa là ngôi đình cổ nổi tiếng. Theo sách “Ô châu cận lục”, làng Ái Nghĩa trước là Ái Đái xã, thuộc phủ Triệu Phong.

    MỘ PHẦN - Nghia trang gia tộc

    Tại quê hương làng Hoá Trung, Hoá Phú, sau khi hoà bình đã di dời một số mộ vào các nghĩa trang theo sự bố trí của chính quyền địa phương như sau:

    1. Nghĩa trang Hóa Phú - Phần mộ Ngài Thỉ Tổ

    2. Nghĩa trang Ái Mỹ - Phần mộ Cụ ông bà Tỉnh -2 vị

    3. Nghĩa trang Đông Tây- Phần mộ tộc (có bia - không rõ tên) - 30 vị

  • Cụ Cao Tổ, Ông Hây, Ông Sửu - 3 vị

    4. Nghĩa trang Gò Cà

  • Phần mộ Cụ Hội Tố - 1 vị
  • Cụ ông bà Điển Ngưng - 2 vị
  • Cụ ông Tuần + Bà Phú - 2 vị
  • Con ông Hát - 2 vị

    5. Nghĩa trang thôn Tư: Ông Vĩnh + Cụ Bốn Điền - 2 vị

    6. Đất họ Bà(*):Cụ bà Tôn, Cụ bà Điệt, Cụ Ba nhỏ Ô. Tương, Ô. Xê, Ô Dệ, Ô Đà, Ô Lễ, Ô Biệt 9 vị

    7. Vườn Ông Vĩnh – Ông Thìn có 1 hàng mộ con Cụ Tuần gồm Ông Ri, Ông Ni, Ông Đi, 2 Vô danh - 5 vị, Cụ bà Thiện, 2 con Cụ Tỉnh - 3 vị , Song linh - 2 vị

    8. Vườn Ông Điệp - 4 vị

    9. Vườn Ông Kim -1 vị

    10. Vườn Ông Hầu - 5 vị

    11. Vườn Bà Sáu Trấp - 4 vị

    12. Vườn Bà Thám - 3 vị

    13. Vườn Ông Tấn - 1 vị

    14. Vườn Bà Ba Một - 1 vị

    15. Vườn Ông Thủ Thụy - 1 vị

    16. Vườn Ông Đạ : dãy liên tục khoản 15 vị trên 1 hàng

    17. Vườn Ông Đường: dãy 10 vị đời thứ 6

    18. Gò Làng Hóa Trung 9 vị không xác định 1 hàng

    19. Vườn Bà Dân: 1 hàng 1 vị

    Tổng kết có 95 mộ + 4 hàng tập thể (khoảng 35 vị) = 130 vị

    Đã xây dựng mộ xi măng khoảng 110 vị. Còn lại ở Gò làng còn 1 hàng còn hoang phế cày bằng, nên con cháu không thể xác định. Chỉ nhớ trước chiến tranh, ở Gò có hàng mộ tập thể của tộc.

    Năm 2024, theo chủ trương của chính quyền địa phương thu hồi đất để làm đường giao thông, con cháu nội ngoại của tộc đã đóng góp 120 triệu để di dời các ngôi mộ bị giải tỏa và các mộ nằm trong vườn nhà của các gia đình về nghĩa trang mới ở thôn Phú Hòa.

    Các phần mộ nay đã được số hóa : lấy tọa độ định vị GPS, lưu giữ hình ảnh trên cơ sở dữ liệu đi kèm với trang web https://tocnguyenvanhoatrung.info

  • XÂY DỰNG NHÀ THỜ TỘC NGUYỄN VĂN

    QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
  • Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày khánh thành Từ đường Tộc NGUYỄN VĂN làng Hoá Trung (Bính Tý 1996 - Bính Ngọ 2026) con cháu trong tộc cùng nhau ôn lại quá khứ, ghi lại các điều cần nhớ để nhắc nhở lớp thế hệ sau tiếp tục phát huy.
  • Từ khi tổ tiên chúng ta đến xây dựng vùng đất thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng nam đến nay hơn 4 thế kỷ. Do nhiều biến đổi và tộc quá ít nhân lực, nên việc thờ cúng chỉ tổ chức ở nhà trưởng tộc, chứ không xây dựng từ đường. Lúc bấy giờ điều kiện kinh tế cực kỳ khó khăn. Rồi tiếp đến 30 năm chiến tranh (1945-1975) tàn phá, tất cả nhà cửa ruộng vườn đều bị chiến tranh huỷ diệt 100%.
  • Sau giải phóng 1975, sống theo chế độ bao cấp, mọi sinh hoạt điều hành đều do Đảng và Nhà nước quản lý, kinh tế vô cùng khó khăn; do vậy việc thờ cúng đều mặc niệm đơn sơ, chứ không có tộc nào tổ chức rình rang cúng bái.
  • Thập niên 1980-1990 đất nước thực hiện đổi mới với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Nhờ đó, tất cả mới có dịp tích cực làm ăn, nắm bắt thời cơ đổi mới để phát triển ngày một tốt đẹp hơn. Nhờ vậy, năm 1996 tộc Nguyễn Văn mới có điều kiện trùng tu lại mồ mã (1995), xây dựng từ đường (1996).
  • Tộc đã phát hành tâm thư kêu gọi tất cả con cháu nội ngoại đóng góp để xây dựng từ đường. Tuy bước đầu còn bỡ ngỡ, nhưng với tất cả tinh thần hướng về cội nguồn, nên con cháu đều đồng tâm hiệp lực cố gắng thực hiện. Kết quả tuy không nhiều nhưng rất quý, do số đông con cháu làm nông nghiệp, thu nhập rất hạn chế. Tất cả lòng hảo tâm của con cháu đều ghi vào sổ vàng, lưu lại để kỷ niệm.
  • Việc chọn mặt bằng cho phù hợp để xây dựng từ đường là việc quan trọng, vì lúc bấy giờ không có đất. Tuy đất cũ của tổ tiên, nhưng theo luật đất đai bấy giờ, tất cả thuộc nhà nước quản lý. Ai ở đâu thì tự khai và quản lý sử dụng, chứ không công nhận đất hương hoả từ đường. Đất xây dựng từ đường nguyên là đất của gia đình cụ Nguyễn Văn Trưng. Sau khi thảo luận và cầu xin ơn trên giúp đỡ, nền nhà cũ của cụ ông Nguyễn Văn Trưng và cụ bà Lê Thị Tám do con gái quản lý được ông Nguyễn Văn Lệnh mua lại 1/3 diện tích để xây dựng từ đường.
  • Từ đường của tộc Nguyễn Văn với diện tích 200m2 đã được khởi công xây dựng và hoàn thành trong 94 ngày và khánh thành vào ngày 20/10/1996 - nhằm ngày 20 tháng 8 năm Bính Tý.
  • Từ đường đã được tu bổ, lát gạch sân, xây khuôn viên, bổ sung các thiết bị chiếu sáng và trang trí do các thành viên tự nguyện đóng góp được ghi trong sổ vàng của gia tộc.
  • CHI TIẾT XÂY DỰNG TỪ ĐƯỜNG
  • Mặt bằng chu vi 200m2 (9m x 22. 5m)
  • Xây nhà thờ chinh 6. 0m x 4. 2m
  • Xây hành lang 1. 5m x 4. 2m x 2
  • Hiên 2. 5m x 9. 0m
  • Xây thêm phần hậu cần 3. 0m x 9. 0m
  • Ngày 4/6 Bính tý (18. 7. 1996) Mở móng
  • Ngày 25/6 Bính Tý Thượng lương
  • Ngày 20/8 Bính Tý (20. 10. 1996) Khánh thành
  • Chi phí khoán cho thợ nề (ông Nghị - Phú Bò)
  • Khoán, nghiệm thu + thưởng 4. 200. 000 đồng
  • Số công nề là 272, mộc là 30 + linh tinh 11. 5 công ( Tổng cộng 312. 5 công)

    Kết quả sau 20 năm xây dựng, trải qua nhiều trận bão lụt thiên tai, nhưng từ đường vẫn đứng vững không bị lún sụp. Hơn nữa, các cửa ngõ và tất cả các vật liệu gỗ còn tốt, không bị mối mọt thật đáng mừng.

    Việc đáng ghi nhớ và mừng nhất là: suốt 20 năm qua toàn tộc vẫn giữ được tinh thần đoàn kết rất tốt. Việc làm ăn học hành, đời sống sinh hoạt nói chung có tiến bộ đáng kể.

    Điều này con cháu luôn luôn ghi lòng tạc dạ, ghi ơn của tiền nhân đã dày công phù trì trợ giúp cho tất cả con cháu được “thuận buồm xuôi gió “đáng quí vô cùng.

    Về Phần mộ của ngài Thỉ Tổ, hiện con cháu đã trùng tu xây dựng cuối năm Giáp Ngọ và khánh thành đầu năm dương lịch 2015.

    Theo số liệu con cháu đóng góp tất cả được 22.700.000 đồng, dùng xây dựng và cúng khánh thành.

  • CÂU ĐỐI TRONG TỪ ĐƯỜNG

    Dưới đây là nội dung những câu đối, chữ nghĩa Hán văn mà chúng ta thờ ở từ đường, phiên ra chữ Việt để con cháu hiểu nghĩa vì sao phải treo các câu đối đó trong từ đường.

  • Bàn thờ chính giữa thờ 2 chữ:
    Triệu – Thủy

    Hai từ này ý nói vị tổ đầu tiên của chúng ta là người đến trước tại địa điểm làng Hoá Trung

    TRIỆU TỔ KHAI CƠ THUỲ PHƯỚC ẤM

    Ông tổ có công mở nền móng rủ phước ấm cho con cháu

    THUỶ TÔN SÁNG NGHIỆP KHÁNH TÂN ĐƯỜNG

    Dòng dõi con cháu sáng nghiệp trước đây tiếp tục xây dựng từ đường

    Hai bên tả hữu có 2 bàn thờ có 4 chữ sau

    QUANG TIỀN - DŨ HẬU

    Tổ tiên khai sáng, ân trạch đời sau

  • QUANG kỳ đức độ khâm tổ triệu [Tổ tiên có đức lớn đáng khâm phục]
  • TIỀN hữu công hoằng phụng tiên linh [Ngài có công, con cháu phụng thờ]
  • thuỳ vạn cổ long tiền điểm
  • HẬU duệ thiên xuân kế hồng ân

    Liễn đối ở gian giữa

    KIỀU MỘC THIÊN CHI DO NHẤT BỔN
             <BR>TRƯỜNG GIANG VẠN PHÁI TỔNG ĐỒNG NGUYÊN

    Cây cao có ngàn nhánh sum suê nhưng chỉ có một gốc mà ra
    Sông dài có vạn nhánh cũng do một nguồn chính mà ra

    Nói tóm lại, tổ tiên chúng ta nhắc nhở ngày nay có nhiều phái, nhiều chi, làm ăn khắp nơi, nhưng chỉ có một thuỷ tổ mà ra. Do đó chúng ta phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, “ lá lành đùm lá rách”, cùng nhau gắn bó “cây cùng một cội, nước cùng một nguồn.

    Câu đối ở trụ

    SANH DO TỔ THÀNH DO TÔN TỔ TÔN HƯNG TẤT TỬ TÔN VINH
          <BR>MỘC HỮU BỔN THUỶ HỮU NGUYÊN BỔN NGUYÊN TRÁNG TẤT TRUYỀN CHI THẠNH

    Sanh do tổ thành do tôn, tổ tôn hưng tất tử tôn vinh.
    Cây có cội, nước có nguồn, cội nguồn tráng tất truyền chi thạnh

    Từ 2 câu đối này, chúng ta suy rộng ra phải tu thân làm sao xứng đáng cây một cội, nước một nguồn,và cách ăn ở đời sao cho xứng đáng với lời vàng ngọc ghi trên.

    Sanh ra là do tổ tiên ông bà cha mẹ mình sinh ra. Nhưng thành đạt là do mình tự thân phải lo rèn luyện chăm chỉ, làm sao cho con cháu lớp sau noi theo và xứng đáng với lời nhắn nhủ ghi trên, không hổ thẹn với lương tâm mình.

    Do đó chúng ta phải cố gắng rèn luyện ý chí vưon lên. Không lãng phí thời gian, để vượt qua mọi trở ngại. Nếu chúng ta nhụt hèn, ý chí kém cõi thì con cháu chúng ta làm sao vinh hiển được.

    Người ta thường nói “ Có chí thì nên”, “Thời giờ là vàng bạc”; không phí phạm thời gian và có ý chí thì sẽ thành công.

  • Câu đối 2 trụ bên

    BẮC ĐỊA HOÁ THANH TỔ TỘC TÔN BỒI DUY NHẤT THỐNG
    NAM THIÊN LỮ QUÁN KHAI CƠ LẬP NGHIỆP TỊCH DÂN SƠ

    Ngoài bình phong lúc mới xây dựng còn có 2 câu đối mặt tiền hậu như sau:

    NGUYỄN ĐƯỜNG LỄ NHẠC THUỲ ĐƯƠNG CỔ
    VĂN CHƯƠNG TÀI PHÚC THẠNH NHƯ KIM
    BẮC HƯỚNG ĐẦU SƠN TỰ ĐỊA PHÒ
    NAM PHƯƠNG TRIỆU THUỶ DO THIÊN ĐỊNH

    Nội dung 2 bức Hoành phi và 1 biển khắc vàng ở giữa

    PHÚC MÃN ĐƯỜNG - ĐỨC LƯU QUANG

    PHÚC MÃN ĐƯỜNG - ĐỨC LƯU QUANG

    Sơ bộ tóm lược các chữ Nho sưu tầm để đưa vào thờ ở từ đường để khắc ghi công đức của tiền nhân đã dày công bồi đắp và lưu lại đức lớn cho con cháu toàn gia tộc đến ngày hôm nay. Từ buổi đầu khai cơ lập nghiệp đến nay đã hơn 4 thế kỷ, trải qua bao thăng trầm lịch sử. Cũng như biết bao bom đạn, mất mát qua các thời chiến tranh khốc liệt, mạng người như “chỉ mành treo chuông”, biết bao nguy biến, cả thiên tai như năm Giáp Thìn (1964), lụt lớn nhiều nơi mất sạch cả làng, nhưng tộc ta đã thoát hiểm và duy trì phát triển đến ngày nay là quý hơn vàng.

  • PHẢ HỆ - TỘC NGUYỄN VĂN - HÓA TRUNG

    Danh sách thành viên các thế hệ
  • Xin xem và tìm kiếm thành viên gia tộc các đời, các nhánh trên cây gia phả của tộc ở phần mềm để có thông tin cập nhật mới nhất.
  • HỘI ĐỒNG GIA TỘC - Nhiệm kỳ 2015 - 2020
    HỘI ĐỒNG GIA TỘC

    HỘI ĐỒNG GIA TỘC

    SỔ VÀNG GIA TỘC

    SỰ KIỆN & GIỖ CHẠP

    TỘC ƯỚC - LỜI RĂN